Chuyên đề NÔNG LÂM NGÀY YÊU DẤU
***
Năm 1967, linh mục Trần
Thái Đỉnh xuất bản ở Sài gòn cuốn "Triết học hiện sinh". Nó lập tức
trở thành cuốn best seller trên thị trường đọc của miền Nam - bán nhanh nhất,
bán nhiều nhất và tái bản liên tục. Đó là thời kỳ triết học đi vào đời sống hằng
ngày của trí thức miền Nam, làm mới toàn diện bộ mặt văn học miền Nam, thay đổi
tư duy suy nghĩ của thế hệ trẻ tuổi. Ngày nay tác phẩm triết học thường nằm
đóng bụi trên các ngăn kệ trong nhà sách, không ai mua, không ai đọc và không
ai có thể hình dung được: đã có một thời kỳ sách bán chạy ở miền Nam không phải
là tiểu thuyết tình cảm, không phải là sách nấu ăn, không phải là sách xì căng
đan... mà chính là sách triết.
Sau 1975, trong môi trường
giáo dục và trên phương tiện truyền thông chỉ có một thứ triết học duy nhất được
tôn thờ: Triết học Mác Lê. Cũng như ở Cộng hòa dân chủ Đức và những nước Đông
Âu xã hội chủ nghĩa khác, tại Việt Nam, dạy và học triết Mác Lê là nghĩa vụ của
mỗi thầy cô giáo và mỗi học sinh sinh viên. Những tư tưởng lớn của thời đại như
Nietzsche, Descartes, Sartre, Heidegger, Kant, Bergson... đều bị chủ nghĩa giáo
điều cực lực phỉ báng và bôi nhọ.
Triết học Mác Lê là loại
triết thiên về luận giải mối quan hệ đấu tranh giai cấp trong thời đại chủ
nghĩa đế quốc, đề cao vai trò cách mạng của giai cấp vô sản. Nó không gần gũi với
tư duy và suy nghĩ của tầng lớp thanh niên trí thức miền Nam trong thời kỳ đất
nước vừa bước qua chiến tranh tìm lại hòa bình, thời kỳ đói nghèo xây dựng lại
kinh tế. Sinh viên học triết Mác Lê năm năm, ra trường không nhớ được gì ngoài
những giờ ngồi ngáp vặt trên giảng đường trong cái mệt cái đói rã rời, những kỳ
thi tràn đầy sợ hãi không biết phải kể lể gì để qua được cửa ải, những bộ mặt lạnh
lùng chuyên chính thiếu thiện cảm của mấy ông thầy dạy triết.
Năm 1987, anh Trần Tiến
Khai (TT 8) có làm hai bài
thơ dạng chuyền tay. Một bài ngũ ngôn mình còn nhớ khá rõ:
Con chim nào ríu rít
Vui hót với lòng anh
Hôm nay bừng lộc mới
Nụ tình yêu non xanh
...
Một bài khác mình quên lời
chỉ nhớ nội dung: Một anh sinh viên buổi tối đi học ở giảng đường chữ I, cứ thấy
một "em" ngồi vật vã với môn triết Mác Lê và sáu cặp phạm trù triết học.
Khuya về cư xá, vừa đói vừa phải gặm môn thi chủ nghĩa cộng sản lại càng thấy
thương mình thương "em". Bài thơ hay cả về nghệ thuật lẫn nội dung,
nhưng chẳng có báo tường nào dám đăng, mà Trần Tiến Khai cũng chẳng dại dột gì
gửi đăng báo tường khi cửa ải tốt nghiệp đang sừng sững ngay trước mắt: cửa ải
chủ nghĩa cộng sản. Một bài thơ tình hoa bướm trong sáng và hiền hòa, nhưng nội
dung của nó lại phản ánh quá rõ tâm trạng mệt mỏi chán nản của sinh viên thời bấy
giờ đối với chuyện học triết. Một sự thực bi hài.
Năm 1992, mình sang Đức,
tuy rất bận rộn với cuộc sống mới, nhưng vì đói sách mình vẫn dành thời gian mỗi
tuần hai buổi trưa vào thư viện. Nước Đức là cái nôi của triết học, có những
triết gia lừng danh như Kant, Nietzsche, Hegel, Heidegger, Husserl... và cả
Karl Max (Các Mác). Thời gian đầu mình tránh xa triết học, vì trong đầu mình
triết là một thứ giáo điều khô khan và đáng ghét. Khi theo nghề viết văn mình
tiến gần đến triết học lúc nào không hay. Nó không hề cứng ngắc khó hiểu như
mình và bạn bè đồng niên vẫn nghĩ, mà, nó là một khung trời rộng thênh thang với
muôn vàn điều kỳ thú.
Chỉ một ví dụ đơn giản
như vầy thôi:
Vào đầu thế kỷ 20, ông
Henri Bergson là một trong những người đưa ra lý lẽ vững chắc để công kích thuyết
tiến hóa của Darwin. Thuyết tiến hóa Darwin học trò trung học nào cũng biết, bạn
bè mình ai cũng có thể đọc ra vanh vách: "Cái gì thích nghi với
môi trường thì sống sót cái không thích nghi thì bị đào thải." Năm
1907, Bergson viết thuyết tiến hóa sáng tạo (Schöpferische Entwicklung ), đặt
ngược lại vấn đề với Darwin bằng cách đề cao vai trò của cỏ dại. Ông nói, nếu
theo thuyết Darwin, cuộc tiến hóa lẽ ra phải chấm dứt khi cỏ dại xuất hiện vì
chúng là hình thức thích nghi nhất và có khả năng lan tràn mãnh liệt nhất, như
vậy, không có lý do gì để các dạng thức cao hơn của sự sống xuất hiện và phát
triển. Con người là một sinh vật phát triển cao độ nhất nhưng lại có một khả
năng thích nghi cầu kỳ xa xỉ nhất. Lẽ ra với một khả năng thích nghi yếu kém (cầu
kỳ xa xỉ) như vậy, nếu theo đúng thuyết Darwin, con người sẽ không thể tồn tại
cho đến ngày hôm nay. Thế giới mà Darwin vẽ ra chỉ toàn là cỏ dại và những loài
ăn cỏ.
Lý luận thật là hay!
Triết học biến trí tuệ
thành công cụ của khoa học, tìm cách lý giải các hiện tượng trong thiên nhiên,
là thứ để con người ta tư duy và chiêm nghiệm cuộc sống.
Lại nói về triết học Hiện
Sinh. Ở thế kỷ XX và cho đến bây giờ, Hiện Sinh vẫn là thứ triết học chiếm vị
thế hàng đầu trong đời sống người trí thức phương Tây, nó đưa con người trở lại
với con người, nó nói về ý nghĩa cuộc nhân sinh, nó là kinh nghiệm của con người
về định mệnh của chính mình. Nó nói về ý nghĩa của cuộc sống và cái chết. Nó
làm cho con người ưu tư và suy nghĩ.
Hiện sinh là vươn lên khỏi
những cái thường nhật để đạt được đến chỗ trung thực nhất của chính con người
mình.
Hiện sinh là không sống
theo thói quen khuôn mẫu của tập thể, không a dua theo đà theo đóm, không hành
động thiếu suy nghĩ kiểu bầy đàn, không nói tiếng nói do người khác bỏ vào miệng
mình.
Hiện sinh là tìm đến tự
do, một thứ tự do siêu việt đã từng được Trần Bình Trọng đề cao: "Thà
làm quỷ xứ Nam còn hơn làm vương xứ Bắc."
Hiện sinh là khẳng định độc
lập chủ quyền - quyết không để bị kẻ mạnh đồng hóa - một tinh thần quật cường
đã được truyền qua bao thế hệ thế hệ người Việt:
Nam quốc sơn hà Nam đế
cư
Tiệt nhiên phận định tại
thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai
xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ
bại hư
Nói như vậy để thấy hiện
sinh đã xuất hiện từ khi con người bắt đầu có ý thức, biết tư duy, thấu hiểu
trách nhiệm làm người, nó không là một thứ lý thuyết sách vở giáo điều. Nó tồn
tại tự nhiên trong mỗi dân tộc, mỗi con người.
Năm mười sáu tuổi mình đọc
cuốn triết học Hiện Sinh của linh mục Trần Thái Đỉnh, không hiểu được nhiều mà
sao vẫn thấy thích, thấy hay. Năm ba mươi tám tuổi, đọc lại cuốn sách đó, xúc động
nhận ra một phần con người của mình.
Năm bốn mươi tuổi, mình
quyết định đổi phong cách sáng tác văn chương. Từ bỏ lối kể chuyện truyền thống:
phô trương cảm xúc, tình tự sướt mướt, vinh danh đạo đức... mình chọn lối viết
hiện sinh miêu tả những điều bình dị trong cuộc sống, bày tỏ ý thức bi đát về
thân phận con người. Mình đổi cả giọng văn, tránh xa những lời văn hoa mỹ hào
nhoáng, chỉ sử dụng một giọng văn dung dị đời thường. Xin nói thêm, đặc điểm của
triết hiện sinh là dùng lối văn bình dị để đưa triết học vào đời sống, để diễn
tả đời sống một cách chân thật nhất. Truyện ngắn "Kẻ tự vẫn" ra đời,
lập tức mình nhận được lời mời cộng tác với các trang văn chương uy tín. Thậm
chí tổng biên tập Văn Chương Việt còn tâm sự: "Đọc truyện này xong, sốc
không ngủ được. Hiện thực tàn khốc."
Mình lặng lẽ nhận lấy
thành công, không kể với ai, nội dung của truyện ngắn đó là ý tưởng của Bùi Văn
Bay từ hai mươi năm trước. Mình chỉ thầm mong, nếu một ngày nào truyện này được
in ra sách, mình sẽ đi cùng trời cuối đất tìm cho ra Bay, mời bạn xưa một... tô
mì kể như là chia tác quyền với Bay.
Bùi Văn Bay đã có cơ
duyên tiếp xúc với triết hiện sinh không? Mình không chắc lắm. Nhưng mình tin,
Bay có thể hiện sinh một cách tự nhiên, bởi vì Bay là kẻ có suy tư mãnh liệt. Ở
thời điểm bạn bè chỉ lo chuyện cơm gạo mắm muối, yêu đương mơ màng nhăng nhít,
hình như Bùi Văn Bay đã biết thơ thẩn trên đồi ngẫm nghĩ chuyện bi hài trong cuộc
sống, đêm về vắt tay lên trán suy tư về thân phận bi đát của kiếp sinh viên. Bởi
vậy mà kiểu nói chuyện của anh sinh viên Bùi Văn Bay thời đó thường rất...
không giống ai.
Năm 1988, trường Nông Lâm
lần đầu tổ chức "Hội thi nói láo", các phân khoa đều sôi nổi tham
gia. Khoa Cơ Khí có anh Chinh (CK9), người Nha Trang. Khoa Lâm có anh Lam
(L10), dân Tây Ninh. Khoa Trồng Trọt có Bùi Văn Bay (TT11). Cuộc thi đó, anh
Chinh dành giải nhất với tiểu phẩm hài nói về các kiểu thi cử gian lận của sinh
viên. Chuyện anh Chinh lấy giải là chuyện gần như không thể khác đi được, bởi
vì thời đó anh Chinh nổi danh như sóng cồn, bước lên sân khấu là chỉ để dành lấy
hào quang. Anh Chinh vừa là đội trưởng bóng chuyền, bóng đá, vừa là tay văn nghệ
xuất sắc của đoàn trường, lại có kiểu ăn nói chinh phục cảm tình người tiếp
xúc. Bản thân mình cũng là một fan quý mến ngưỡng mộ anh Chinh. Nhưng vụ này
mình thành thật nhận xét, tiểu phẩm dự thi của anh Chinh chỉ là một kiểu hài
thuần túy không đặc biệt sâu sắc lại thiếu đi tính chất chủ đạo của cuộc thi là
"tính nói láo".
Tiểu phẩm của Bùi Văn Bay
tuy không dành giải nhất nhưng nó để lại trong lòng mình một nỗi day dứt. Bay kể
chuyện mấy thằng sinh viên ốm đói ngồi bốc phét với nhau. Một thằng khoe, da nó
đã biến thành màu xanh lá cây, bây giờ nó tự quang hợp được, mỗi ngày nó chỉ cần
nước - không khí - và một chút phân. Thằng khác khoe, nó tìm ra một giống bắp mới
gọi là bắp đá, ngày hôm nay ăn một lon bắp ngày hôm sau vẫn thu hồi lại được
đúng một lon. Bắp bất biến chỉ cần rửa sạch là dùng lại được, không rửa cũng
không sao. Suốt năm năm học, mỗi sinh viên chỉ cần một lon bắp là có thể tồn tại.
Tiểu phẩm hài của Bay
không chỉ đi đến tận cùng sự láo khoét mà còn mô tả trần trụi hiện thực đói
khát, cuộc sống bi đát của sinh viên. Hơn nữa, ở vai trò là đại diện của khoa
Nông Học, Bay đã rất thành công trong vai trò đó: đem kiến thức chuyên môn của
mình trình bày một tiểu phẩm đậm tính chuyên ngành.
Phần trình diễn của Bay
cũng cực kỳ hoàn hảo. Trong bộ dạng còm ròm rầu rĩ với giọng kể rề rà của một kẻ
nhịn đói lâu ngày, Bay tạo nên ấn tượng sâu sắc về nhân dạng bi thảm của thằng
sinh viên thời bao cấp.
May mà Bay thi nói láo chứ
không thi nói thật.
May mà thầy Trung Dừa -
bí thư đoàn trường thời điểm đó - là người rất khoái các kiểu cười pha lẫn dung
tục.
Cho nên Bay mới thoát khỏi
bản án của đoàn trường, nhẹ nhất là tự kiểm, "chuyên chính" hơn là ngồi
thêm một năm lớp cũ. Thời bao cấp ăn nói huỵch toẹt như Bay là cực kỳ dại dột
và nguy hiểm.
Trong mắt nữ sinh TT11,
cái kiểu ăn nói thẳng thừng đó làm Bay còn có vẻ khó hiểu và khó gần. Nhưng
không ai ghét Bay được. Nhiều khi bị Bay phạng thẳng, các chị không giận mà còn
tủm tỉm cười, tối về cư xá khen len lén: "Ông Bay có cái miệng cười có
duyên". Nhiều khi đi ngang cư xá nam nghe bọn con trai kêu réo chọc ghẹo
(bao giờ giọng Bay cũng to nhất), các chị chỉ cúi đầu đi như chạy trốn, đêm về
cư xá các chị thì thầm xúc động: "Hôm nay nghe ông Bay cười the thé ở bển".
Bay không chỉ cười to mà
còn hát rất khỏe. Nhưng Bay chỉ trình diễn văn nghệ vào những lúc không ai cần
đến văn nghệ. Thời gian đi lao động khổ sai ở Tân Uyên, Bay thường phục vụ văn
nghệ miễn phí vào những giờ oái oăm. Mà diễn đi diễn lại, Bay chỉ hát một bài
duy nhất: Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà.
Trong khi bạn bè đang gò
lưng cuốc đất, Bay leo lên "sân khấu" đứng tạo dáng. Sân khấu của Bay
thường là một cái gò mối, hay một gốc cây nằm cô quạnh trên đồng. Bay lấy giọng
thật kỹ, rồi gào lên một tiếng thống thiết:
Trời... hỡi...
Bạn bè hoảng hốt dừng tay
cuốc nhìn lên thì thấy Bùi Văn Bay một tay cầm cuốc, một tay chỉ về phía chân
trời xa thẳm. Trong một lúc bi hùng nhất, giữa những người đồng đội thân thương
mà Bay xem như quân lính (hay quân giặc?), Bay vô sáu câu ngọt sớt. Không cần
micro, không cần loa, giọng ca cải lương nhức nhối của Bay vẫn vang xa khắp
cánh đồng tranh, băng qua mấy hố bom B 52, tràn tới tận mép rừng chồi. Thênh
thang giữa đồng khô cỏ cháy, hừng hực dưới trời trưa nắng gắt gay, Bay vừa cất
giọng lên là bạn bè thấy... đổ thêm mồ hôi.
Bởi sa cơ giữa chiến
trường thọ tiễn nên Võ Đông Sơn đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu Hà.
Bạn tình chung ơi, đừng
hoài công mòn mỏi đợi chờ.
Hãy gọi tên anh trong
những chiều sương lạnh khi cánh nhạn bay về cuối nẻo trời xa
Hay giữa đêm khuya ngồi
tựa rèm châu ngắm ánh trăng tà.
Nàng có nhớ đến những
tháng năm này có một người yêu đã vùi thây giữa vùng cát trắng.
...
Không hiểu vì sao Bay
luôn dừng ngay ở đoạn "vùi thây giữa vùng cát trắng". Vì đói bụng hết
sức, vì đã diễn tả hết nỗi lòng bi thương, hay vì thực trạng lao động khổ sai
như một kiểu "vùi thây giữa vùng cát trắng" làm Bay quá đau khổ mà
nghẹn lời. Hát xong một đoạn ngắn đó rồi Bay lủi thủi leo xuống, nhẫn nhục cuốc
đất cùng mọi người. Từ đó đến lúc về, không thấy Bay lên tiếng cười đùa nữa.
Ngày ra trường, mỗi đứa
đi một nơi. Mình đi quá xa, mất gần hết liên lạc với bạn bè cũ, trong đó có Bùi
Văn Bay.
Bây giờ gặp lại nhau trên
facebook, nghe bạn bè nói: Bay thành nhà thơ, mình không ngạc nhiên. Người nhiều
suy tư như Bay chắc chắn phải tìm cách (hay tìm nơi) để giải bày. Mình chưa có
dịp đọc thơ của Bay, nhưng mình tin rằng Bay không hợp với loại thơ tình mây
gió trăng hoa hay thơ ca tụng tán dương với những ngôn từ hào nhoáng hoa mỹ.
Thơ của Bay - nếu thành công - chỉ có thể là thơ hiện sinh, thơ nói về những điều
bình dị trong cuộc sống, suy tư phận người, chia sẻ đắng cay... bằng câu chữ mộc
mạc chân chất của đời thường.
Có phải vậy không, bạn
xưa?
*
Nhà cỏ, 31 tháng1. 2018
Võ Thu Phương (fb Lưu Thủy
Hương)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét