Thứ Tư, 7 tháng 3, 2018

Kỳ 3: Bạn tôi - Những chủ thể hiện sinh




Chuyên đề NÔNG LÂM NGÀY YÊU DẤU

***

Năm 1967, linh mục Trần Thái Đỉnh xuất bản ở Sài gòn cuốn "Triết học hiện sinh". Nó lập tức trở thành cuốn best seller trên thị trường đọc của miền Nam - bán nhanh nhất, bán nhiều nhất và tái bản liên tục. Đó là thời kỳ triết học đi vào đời sống hằng ngày của trí thức miền Nam, làm mới toàn diện bộ mặt văn học miền Nam, thay đổi tư duy suy nghĩ của thế hệ trẻ tuổi. Ngày nay tác phẩm triết học thường nằm đóng bụi trên các ngăn kệ trong nhà sách, không ai mua, không ai đọc và không ai có thể hình dung được: đã có một thời kỳ sách bán chạy ở miền Nam không phải là tiểu thuyết tình cảm, không phải là sách nấu ăn, không phải là sách xì căng đan... mà chính là sách triết.

Sau 1975, trong môi trường giáo dục và trên phương tiện truyền thông chỉ có một thứ triết học duy nhất được tôn thờ: Triết học Mác Lê. Cũng như ở Cộng hòa dân chủ Đức và những nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa khác, tại Việt Nam, dạy và học triết Mác Lê là nghĩa vụ của mỗi thầy cô giáo và mỗi học sinh sinh viên. Những tư tưởng lớn của thời đại như Nietzsche, Descartes, Sartre, Heidegger, Kant, Bergson... đều bị chủ nghĩa giáo điều cực lực phỉ báng và bôi nhọ.

Triết học Mác Lê là loại triết thiên về luận giải mối quan hệ đấu tranh giai cấp trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, đề cao vai trò cách mạng của giai cấp vô sản. Nó không gần gũi với tư duy và suy nghĩ của tầng lớp thanh niên trí thức miền Nam trong thời kỳ đất nước vừa bước qua chiến tranh tìm lại hòa bình, thời kỳ đói nghèo xây dựng lại kinh tế. Sinh viên học triết Mác Lê năm năm, ra trường không nhớ được gì ngoài những giờ ngồi ngáp vặt trên giảng đường trong cái mệt cái đói rã rời, những kỳ thi tràn đầy sợ hãi không biết phải kể lể gì để qua được cửa ải, những bộ mặt lạnh lùng chuyên chính thiếu thiện cảm của mấy ông thầy dạy triết.

Năm 1987, anh Trần Tiến Khai (TT 8) có làm hai bài thơ dạng chuyền tay. Một bài ngũ ngôn mình còn nhớ khá rõ:

Con chim nào ríu rít

Vui hót với lòng anh

Hôm nay bừng lộc mới

Nụ tình yêu non xanh

...

Một bài khác mình quên lời chỉ nhớ nội dung: Một anh sinh viên buổi tối đi học ở giảng đường chữ I, cứ thấy một "em" ngồi vật vã với môn triết Mác Lê và sáu cặp phạm trù triết học. Khuya về cư xá, vừa đói vừa phải gặm môn thi chủ nghĩa cộng sản lại càng thấy thương mình thương "em". Bài thơ hay cả về nghệ thuật lẫn nội dung, nhưng chẳng có báo tường nào dám đăng, mà Trần Tiến Khai cũng chẳng dại dột gì gửi đăng báo tường khi cửa ải tốt nghiệp đang sừng sững ngay trước mắt: cửa ải chủ nghĩa cộng sản. Một bài thơ tình hoa bướm trong sáng và hiền hòa, nhưng nội dung của nó lại phản ánh quá rõ tâm trạng mệt mỏi chán nản của sinh viên thời bấy giờ đối với chuyện học triết. Một sự thực bi hài.

Năm 1992, mình sang Đức, tuy rất bận rộn với cuộc sống mới, nhưng vì đói sách mình vẫn dành thời gian mỗi tuần hai buổi trưa vào thư viện. Nước Đức là cái nôi của triết học, có những triết gia lừng danh như Kant, Nietzsche, Hegel, Heidegger, Husserl... và cả Karl Max (Các Mác). Thời gian đầu mình tránh xa triết học, vì trong đầu mình triết là một thứ giáo điều khô khan và đáng ghét. Khi theo nghề viết văn mình tiến gần đến triết học lúc nào không hay. Nó không hề cứng ngắc khó hiểu như mình và bạn bè đồng niên vẫn nghĩ, mà, nó là một khung trời rộng thênh thang với muôn vàn điều kỳ thú.

Chỉ một ví dụ đơn giản như vầy thôi:

Vào đầu thế kỷ 20, ông Henri Bergson là một trong những người đưa ra lý lẽ vững chắc để công kích thuyết tiến hóa của Darwin. Thuyết tiến hóa Darwin học trò trung học nào cũng biết, bạn bè mình ai cũng có thể đọc ra vanh vách: "Cái gì thích nghi với môi trường thì sống sót cái không thích nghi thì bị đào thải." Năm 1907, Bergson viết thuyết tiến hóa sáng tạo (Schöpferische Entwicklung ), đặt ngược lại vấn đề với Darwin bằng cách đề cao vai trò của cỏ dại. Ông nói, nếu theo thuyết Darwin, cuộc tiến hóa lẽ ra phải chấm dứt khi cỏ dại xuất hiện vì chúng là hình thức thích nghi nhất và có khả năng lan tràn mãnh liệt nhất, như vậy, không có lý do gì để các dạng thức cao hơn của sự sống xuất hiện và phát triển. Con người là một sinh vật phát triển cao độ nhất nhưng lại có một khả năng thích nghi cầu kỳ xa xỉ nhất. Lẽ ra với một khả năng thích nghi yếu kém (cầu kỳ xa xỉ) như vậy, nếu theo đúng thuyết Darwin, con người sẽ không thể tồn tại cho đến ngày hôm nay. Thế giới mà Darwin vẽ ra chỉ toàn là cỏ dại và những loài ăn cỏ.

Lý luận thật là hay!

Triết học biến trí tuệ thành công cụ của khoa học, tìm cách lý giải các hiện tượng trong thiên nhiên, là thứ để con người ta tư duy và chiêm nghiệm cuộc sống.

Lại nói về triết học Hiện Sinh. Ở thế kỷ XX và cho đến bây giờ, Hiện Sinh vẫn là thứ triết học chiếm vị thế hàng đầu trong đời sống người trí thức phương Tây, nó đưa con người trở lại với con người, nó nói về ý nghĩa cuộc nhân sinh, nó là kinh nghiệm của con người về định mệnh của chính mình. Nó nói về ý nghĩa của cuộc sống và cái chết. Nó làm cho con người ưu tư và suy nghĩ.

Hiện sinh là vươn lên khỏi những cái thường nhật để đạt được đến chỗ trung thực nhất của chính con người mình.

Hiện sinh là không sống theo thói quen khuôn mẫu của tập thể, không a dua theo đà theo đóm, không hành động thiếu suy nghĩ kiểu bầy đàn, không nói tiếng nói do người khác bỏ vào miệng mình.

Hiện sinh là tìm đến tự do, một thứ tự do siêu việt đã từng được Trần Bình Trọng đề cao: "Thà làm quỷ xứ Nam còn hơn làm vương xứ Bắc."

Hiện sinh là khẳng định độc lập chủ quyền - quyết không để bị kẻ mạnh đồng hóa - một tinh thần quật cường đã được truyền qua bao thế hệ thế hệ người Việt:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên phận định tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Nói như vậy để thấy hiện sinh đã xuất hiện từ khi con người bắt đầu có ý thức, biết tư duy, thấu hiểu trách nhiệm làm người, nó không là một thứ lý thuyết sách vở giáo điều. Nó tồn tại tự nhiên trong mỗi dân tộc, mỗi con người.

Năm mười sáu tuổi mình đọc cuốn triết học Hiện Sinh của linh mục Trần Thái Đỉnh, không hiểu được nhiều mà sao vẫn thấy thích, thấy hay. Năm ba mươi tám tuổi, đọc lại cuốn sách đó, xúc động nhận ra một phần con người của mình.

Năm bốn mươi tuổi, mình quyết định đổi phong cách sáng tác văn chương. Từ bỏ lối kể chuyện truyền thống: phô trương cảm xúc, tình tự sướt mướt, vinh danh đạo đức... mình chọn lối viết hiện sinh miêu tả những điều bình dị trong cuộc sống, bày tỏ ý thức bi đát về thân phận con người. Mình đổi cả giọng văn, tránh xa những lời văn hoa mỹ hào nhoáng, chỉ sử dụng một giọng văn dung dị đời thường. Xin nói thêm, đặc điểm của triết hiện sinh là dùng lối văn bình dị để đưa triết học vào đời sống, để diễn tả đời sống một cách chân thật nhất. Truyện ngắn "Kẻ tự vẫn" ra đời, lập tức mình nhận được lời mời cộng tác với các trang văn chương uy tín. Thậm chí tổng biên tập Văn Chương Việt còn tâm sự: "Đọc truyện này xong, sốc không ngủ được. Hiện thực tàn khốc."

Mình lặng lẽ nhận lấy thành công, không kể với ai, nội dung của truyện ngắn đó là ý tưởng của Bùi Văn Bay từ hai mươi năm trước. Mình chỉ thầm mong, nếu một ngày nào truyện này được in ra sách, mình sẽ đi cùng trời cuối đất tìm cho ra Bay, mời bạn xưa một... tô mì kể như là chia tác quyền với Bay.

Bùi Văn Bay đã có cơ duyên tiếp xúc với triết hiện sinh không? Mình không chắc lắm. Nhưng mình tin, Bay có thể hiện sinh một cách tự nhiên, bởi vì Bay là kẻ có suy tư mãnh liệt. Ở thời điểm bạn bè chỉ lo chuyện cơm gạo mắm muối, yêu đương mơ màng nhăng nhít, hình như Bùi Văn Bay đã biết thơ thẩn trên đồi ngẫm nghĩ chuyện bi hài trong cuộc sống, đêm về vắt tay lên trán suy tư về thân phận bi đát của kiếp sinh viên. Bởi vậy mà kiểu nói chuyện của anh sinh viên Bùi Văn Bay thời đó thường rất... không giống ai.

Năm 1988, trường Nông Lâm lần đầu tổ chức "Hội thi nói láo", các phân khoa đều sôi nổi tham gia. Khoa Cơ Khí có anh Chinh (CK9), người Nha Trang. Khoa Lâm có anh Lam (L10), dân Tây Ninh. Khoa Trồng Trọt có Bùi Văn Bay (TT11). Cuộc thi đó, anh Chinh dành giải nhất với tiểu phẩm hài nói về các kiểu thi cử gian lận của sinh viên. Chuyện anh Chinh lấy giải là chuyện gần như không thể khác đi được, bởi vì thời đó anh Chinh nổi danh như sóng cồn, bước lên sân khấu là chỉ để dành lấy hào quang. Anh Chinh vừa là đội trưởng bóng chuyền, bóng đá, vừa là tay văn nghệ xuất sắc của đoàn trường, lại có kiểu ăn nói chinh phục cảm tình người tiếp xúc. Bản thân mình cũng là một fan quý mến ngưỡng mộ anh Chinh. Nhưng vụ này mình thành thật nhận xét, tiểu phẩm dự thi của anh Chinh chỉ là một kiểu hài thuần túy không đặc biệt sâu sắc lại thiếu đi tính chất chủ đạo của cuộc thi là "tính nói láo".

Tiểu phẩm của Bùi Văn Bay tuy không dành giải nhất nhưng nó để lại trong lòng mình một nỗi day dứt. Bay kể chuyện mấy thằng sinh viên ốm đói ngồi bốc phét với nhau. Một thằng khoe, da nó đã biến thành màu xanh lá cây, bây giờ nó tự quang hợp được, mỗi ngày nó chỉ cần nước - không khí - và một chút phân. Thằng khác khoe, nó tìm ra một giống bắp mới gọi là bắp đá, ngày hôm nay ăn một lon bắp ngày hôm sau vẫn thu hồi lại được đúng một lon. Bắp bất biến chỉ cần rửa sạch là dùng lại được, không rửa cũng không sao. Suốt năm năm học, mỗi sinh viên chỉ cần một lon bắp là có thể tồn tại.

Tiểu phẩm hài của Bay không chỉ đi đến tận cùng sự láo khoét mà còn mô tả trần trụi hiện thực đói khát, cuộc sống bi đát của sinh viên. Hơn nữa, ở vai trò là đại diện của khoa Nông Học, Bay đã rất thành công trong vai trò đó: đem kiến thức chuyên môn của mình trình bày một tiểu phẩm đậm tính chuyên ngành.

Phần trình diễn của Bay cũng cực kỳ hoàn hảo. Trong bộ dạng còm ròm rầu rĩ với giọng kể rề rà của một kẻ nhịn đói lâu ngày, Bay tạo nên ấn tượng sâu sắc về nhân dạng bi thảm của thằng sinh viên thời bao cấp.

May mà Bay thi nói láo chứ không thi nói thật.

May mà thầy Trung Dừa - bí thư đoàn trường thời điểm đó - là người rất khoái các kiểu cười pha lẫn dung tục.

Cho nên Bay mới thoát khỏi bản án của đoàn trường, nhẹ nhất là tự kiểm, "chuyên chính" hơn là ngồi thêm một năm lớp cũ. Thời bao cấp ăn nói huỵch toẹt như Bay là cực kỳ dại dột và nguy hiểm.

Trong mắt nữ sinh TT11, cái kiểu ăn nói thẳng thừng đó làm Bay còn có vẻ khó hiểu và khó gần. Nhưng không ai ghét Bay được. Nhiều khi bị Bay phạng thẳng, các chị không giận mà còn tủm tỉm cười, tối về cư xá khen len lén: "Ông Bay có cái miệng cười có duyên". Nhiều khi đi ngang cư xá nam nghe bọn con trai kêu réo chọc ghẹo (bao giờ giọng Bay cũng to nhất), các chị chỉ cúi đầu đi như chạy trốn, đêm về cư xá các chị thì thầm xúc động: "Hôm nay nghe ông Bay cười the thé ở bển".

Bay không chỉ cười to mà còn hát rất khỏe. Nhưng Bay chỉ trình diễn văn nghệ vào những lúc không ai cần đến văn nghệ. Thời gian đi lao động khổ sai ở Tân Uyên, Bay thường phục vụ văn nghệ miễn phí vào những giờ oái oăm. Mà diễn đi diễn lại, Bay chỉ hát một bài duy nhất: Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà.

Trong khi bạn bè đang gò lưng cuốc đất, Bay leo lên "sân khấu" đứng tạo dáng. Sân khấu của Bay thường là một cái gò mối, hay một gốc cây nằm cô quạnh trên đồng. Bay lấy giọng thật kỹ, rồi gào lên một tiếng thống thiết:

Trời... hỡi...

Bạn bè hoảng hốt dừng tay cuốc nhìn lên thì thấy Bùi Văn Bay một tay cầm cuốc, một tay chỉ về phía chân trời xa thẳm. Trong một lúc bi hùng nhất, giữa những người đồng đội thân thương mà Bay xem như quân lính (hay quân giặc?), Bay vô sáu câu ngọt sớt. Không cần micro, không cần loa, giọng ca cải lương nhức nhối của Bay vẫn vang xa khắp cánh đồng tranh, băng qua mấy hố bom B 52, tràn tới tận mép rừng chồi. Thênh thang giữa đồng khô cỏ cháy, hừng hực dưới trời trưa nắng gắt gay, Bay vừa cất giọng lên là bạn bè thấy... đổ thêm mồ hôi.

Bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn nên Võ Đông Sơn đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu Hà.

Bạn tình chung ơi, đừng hoài công mòn mỏi đợi chờ.

Hãy gọi tên anh trong những chiều sương lạnh khi cánh nhạn bay về cuối nẻo trời xa

Hay giữa đêm khuya ngồi tựa rèm châu ngắm ánh trăng tà.

Nàng có nhớ đến những tháng năm này có một người yêu đã vùi thây giữa vùng cát trắng.

...

Không hiểu vì sao Bay luôn dừng ngay ở đoạn "vùi thây giữa vùng cát trắng". Vì đói bụng hết sức, vì đã diễn tả hết nỗi lòng bi thương, hay vì thực trạng lao động khổ sai như một kiểu "vùi thây giữa vùng cát trắng" làm Bay quá đau khổ mà nghẹn lời. Hát xong một đoạn ngắn đó rồi Bay lủi thủi leo xuống, nhẫn nhục cuốc đất cùng mọi người. Từ đó đến lúc về, không thấy Bay lên tiếng cười đùa nữa.

Ngày ra trường, mỗi đứa đi một nơi. Mình đi quá xa, mất gần hết liên lạc với bạn bè cũ, trong đó có Bùi Văn Bay.

Bây giờ gặp lại nhau trên facebook, nghe bạn bè nói: Bay thành nhà thơ, mình không ngạc nhiên. Người nhiều suy tư như Bay chắc chắn phải tìm cách (hay tìm nơi) để giải bày. Mình chưa có dịp đọc thơ của Bay, nhưng mình tin rằng Bay không hợp với loại thơ tình mây gió trăng hoa hay thơ ca tụng tán dương với những ngôn từ hào nhoáng hoa mỹ. Thơ của Bay - nếu thành công - chỉ có thể là thơ hiện sinh, thơ nói về những điều bình dị trong cuộc sống, suy tư phận người, chia sẻ đắng cay... bằng câu chữ mộc mạc chân chất của đời thường.

Có phải vậy không, bạn xưa?

*

Nhà cỏ, 31 tháng1. 2018

Võ Thu Phương (fb Lưu Thủy Hương)

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét