Thứ Tư, 22 tháng 3, 2023

Bảo Lộc giữa lãng mạn và hiện thực - Những đợt thực tập của TT11

Sau 3 năm lao động khổ sai ở Tân Uyên, năm cuối cùng ở đại học, lớp Trồng Trọt 11 mới được lên Bảo Lộc thực tập môn Cây công nghiệp.
Tháng 11 năm 1989, TT11 lên cao nguyên trong niềm hân hoan tột độ. Niềm hân hoan của những người trí thức trẻ khao khát kiến thức, của những sinh viên trẻ thèm thuồng một lần được vui chơi. Bảo Lộc trong niềm mơ ước của tụi mình là một khung trời cao nguyên lãng mạn, là hoa dã quỳ vàng rực trong nắng, là đêm lạnh xôn xao giấc ngủ, là sương trắng buổi sớm mai, là thênh thang gió đại ngàn.

Đêm tụ tập ở Bảo Lộc: Quang Danh, Trọng Tuấn, Thu Phương, Phổ Hùng, Văn Ngưu (trái qua phải)
Thời đó con gái không bao giờ dám ngồi giữa đám con trai như vầy. Võ cô nương can đảm làm show chụp hình chơi thôi.
Hai chuyến xe buýt của trường chở sinh viên ba lớp TT11A, TT11B, DT11 khởi hành từ sáng sớm, cà rịch cà tang tới chiều muộn thì đến được trường Kỹ Thuật Nông Nghiệp Bảo Lộc. Vừa đổ quân xuống là cả bọn hớt hải chạy đi tìm nhà vệ sinh. Ấn tượng đầu tiên lại không chút lãng mạn: nơi tụi mình đổ quân không hề có cái nhà vệ sinh nào. Như kẻ thường xuyên thất tình và thường xuyên bị người yêu bội bạc, tụi mình đau khổ chạy loanh quanh rồi thấy đời vẫn còn chút gì đáng sống.
Thật ra, Bảo Lộc cũng có nhà vệ sinh nhưng mà có cũng như không, không cũng như có. Trường Kỹ Thuật Nông Nghiệp Bảo Lộc chỉ bố trí nương trà phía sau hội trường là nhà vệ sinh cho một trăm nam thanh nữ tú. Nhưng nương trà cuối mùa đã qua đợt thu hái lần thứ tư, cành lá trơ trụi thưa thớt, nhiều hàng thấp lè tè ngang đầu gối. Thành ra tụi con gái phải chịu khó đi xa thêm chút nữa để ra đến nương cà phê. Cà phê tháng 11 vẫn xanh tốt và rậm rạp, cành lá bên trên cao quá đầu, cành lá bên dưới lòa xòa tận đất. Tự nhiên rồi sanh ra quy luật rất hợp lý, rất thuần phong mỹ tục: nam sinh thơ thẩn thăm nương trà, nữ sinh cặm cụi nhổ cỏ nương cà phê. Cả lớp một trăm đứa, không họp giao ban lần nào, không đưa ra lịch trình công tác, mà vẫn giữa đúng quy định: nam trà - nữ cà phê. Suốt hai tuần tác chiến không hề phát sinh vấn đề đi chôn mìn hay giấu lựu đạn sai địa bàn. Ngày chia tay Bảo Lộc, bọn mình còn vui vẻ cảm ơn ban giám hiệu trường đã chăm lo giới tính cho sinh viên chu đáo.
Bảo Lộc thời đó đầy rắn hổ đen, loại cực độc. Nhưng chị em ra thăm nương cà phê chưa gặp rắn bao giờ. Đám dân miền Tây TT 11 lên cao nguyên, rắn nghe tin đã bỏ chạy gần hết. Con nào chạy không kịp bị thảy vô nồi cháo của anh Sáu, anh Mon. Đêm nào có cháo rắn, đám nam sinh dưới hội trường có chương trình ca cải lương, ca giọng cổ không cần đàn trống cũng vẫn vui nhộn. TT 11 mà ở Bảo Lộc thêm hai tháng nữa, bảo đảm rắn ở Bảo Lộc sẽ tuyệt chủng như rắn ở đồi Nông Lâm. Thành ra nhắc đến chuyện „tối đi ra nương cà phê“, nhiều chị vẫn nói lạc quan:
“Rắn đâu không thấy, cứ kéo nhau vô bụi ngồi là cười khúc khích. Lạnh quá!”
Kể lại thì ráng kể cho vui, cho thanh tao, chứ tình cảnh khi đó tàn khốc lắm. Phụ nữ mà không có nhà vệ sinh là sắp tuột xuống hàng súc vật.
Tháng 11, Bảo Lộc lạnh và mù sương. Chỗ ở của sinh viên là một hội trường lớn cửa nẻo thênh thang nằm giữa một khoảnh vườn trà rộng rãi. Tầng trệt hội trường là sân khấu với vài bộ bàn ghế xộc xệch, tầng trên là căn gác nhỏ, chắc trước đây là phòng kỹ thuật âm thanh ánh sáng. Bốn mươi đứa con gái lật đật chiếm giữ tầng trên chật chội làm chỗ ngủ, chỗ giăng màn thay áo quần (may phước là còn một chỗ kín đáo để thay áo quần). Đám con trai dọn dẹp một góc hội trường làm chỗ ngủ qua đêm.
Phần lớn nam sinh không mang theo áo ấm, đứa nào cũng phong phanh tấm áo sơ mi mỏng. Không phải các bạn không biết Bảo Lộc mùa cuối năm lạnh rét, chỉ đơn giản là không có áo ấm để mang theo. Ban ngày chạy chơi còn quên lạnh, ban đêm sương xuống, hơi lạnh thấm vào tận phổi. Mền cũng không có mà đắp, cả bầy con trai nằm trong hội trường trống trải ho như chó sủa. Đứa nào không chịu nổi thì mò dậy đốt lửa, vừa khơi lửa vừa run lập cập.
Đám con gái tụi mình đỡ hơn một chút, hầu hết đều xoay xở được một tấm áo khoác. Vay mượn đâu đó của người thân, của bạn bè trong ký túc xá. Buổi tối nằm chen chúc như cá mòi trên gác xép của hội trường cũng đỡ thấy lạnh.
Buổi chiều tới Bảo Lộc, vừa cất hành lý, đi thăm bón mấy bụi cây xong, tụi mình lấy banh ra chơi. Hồi đó TT11 đi đâu cũng mang theo một trái banh - chỉ một trái thôi - vừa làm banh đá vừa làm banh chuyền. Khi nào nó rách thì anh Sáu, anh Lãnh tìm cách vá lại. Không biết các anh vá bằng cách nào, trái banh vẫn tròn quay không một vết nối. Các anh vá tới và lui, khi banh tơi tả hết vá được mới hùn tiền mua banh mới.
Đội bóng chuyền nam nữ chơi ngay trên sân cạnh hội trường trong khi các bạn khác tản mát khắp triền đồi xem phong cảnh. Và các chị nuôi (vẫn là những người chị hiền đảm đang) hì hụi thổi lửa nấu nước uống, nấu cơm chiều. Bao giờ cũng những khuôn mặt lặng lẽ ân cần, không sao quên được: chị Điền, chị Khâu, chị Ninh, chị Lệ, bạn Kiển, chị Sáu...
Tại sao có những người bạn luôn thầm lặng thổi cơm nấu nước cho cả một tập thể ham vui? Câu hỏi theo mình đến chân trời góc bể, để rồi một ngày tìm ra câu trả lời: “Đó là cái tình vô tư hồn nhiên của tuổi hoa niên”. Vì cái tình chân chất “hai lúa” đó mà sau hơn ba mươi năm lang bạt xứ người, đã dứt áo đi thật là xa, mình vẫn quay về tìm lại bạn bè cũ. Để ngồi bên nhau trên một diễn đàn ảo, khóc cười ôn kỷ niệm. Sau những cay đắng và thất vọng, vẫn còn cái gì đó níu giữ chân mình, nhắn nhủ quay về.
Tháng 11, Bảo Lộc vàng hoa dã quỳ. Đẹp rạng rỡ, đẹp nồng nàn, đẹp ngẩn ngơ. Hoa mọc hoang dại không ai chăm bón, cứ tràn lên trong nắng gió cao nguyên. Những đồi trà, cà phê xanh ngát trải dài đến tận chân trời tím. Tụi mình được đi thăm nhà máy chế biến trà, được nhìn thấy quy trình chế biến trà xanh, trà đen, được nghe giải thích: trà xanh hay trà đen là khác nhau ở quy trình oxy hóa, mức độ lên men, công đoạn sấy khô, nhiệt độ sấy khô… Tham quan một buổi mà kiến thức lưu giữ ba chục năm, không như học vẹt vừa thi xong là quên tuốt luốt. Tụi mình đi ra nương trà (dù là trà đã qua mùa thu hoạch), hiểu hơn câu hát người hái trà mà thầy cô dạy: “Một tôm hai lá, một cá một chừa”, nhìn thấy hoa trà trắng tròn đẹp như ngọc.
Tụi mình sang nương cà phê, thấy trái cà phê từng chùm chín đỏ đẹp như tranh vẽ. Mùa cà phê chín ở cao nguyên nhằm vào tháng 10 đến tháng 12. Tụi mình may mắn lên Bảo Lộc vào mùa cà phê đang chín đỏ. Trước đó mình cứ tưởng, trái cà phê có màu đen. Thật ra màu đỏ này là lớp vỏ thịt bên ngoài thôi, nó có vị ngọt, hàm lượng đường cao nên mới có chuyện chồn ăn cà phê thải ra cái gọi là cà phê... con chồn. Sau này mình còn biết, trên thế giới còn có loại cà phê vỏ thịt màu vàng như Yellow Bourbon, hay màu cam như Orange Bourbon. Cà phê Bảo Lộc thời tụi mình tham quan với thầy Hưng toàn giống cà phê vối (Robusta) và cà phê chè (Arabica), bây giờ không biết ra sao.
Tuần thứ nhì, tụi mình ghé thăm công ty Dâu Tằm Tơ Bảo Lộc (công ty sản xuất Lụa Tơ Tằm Bảo Lộc?). Ra cổng trường, rẽ trái xuống đường Trần Phú, qua Chi Lăng, khoảng chừng 5-6 cây số là đến công ty. Từ trường Kỹ thuật Nông nghiệp đi bộ xuống công ty khoảng chừng 1 giờ rưỡi.
Thời đó tằm Bảo Lộc còn nuôi trong nong theo kiểu cổ truyền, sau này mình đọc báo, thấy người ta nuôi tằm dưới sàn nhà, lạ quá. Vì lý do giữ vệ sinh cho tằm, sinh viên Trồng Trọt không được ghé xem chỗ nuôi tằm mà chỉ được ra thăm nương dâu, được giải thích cách nuôi tằm - đặt hom - lấy kén. Các bạn Dâu Tằm 11 có tiêu chuẩn thực tập cao hơn vì chương trình hỗ trợ chuyên ngành của công ty dành riêng cho những kỹ sư dâu tằm tơ tương lai. Các bạn làm việc suốt hai tuần ở đó. Bù lại, công ty cho sinh viên Trồng Trọt sang thực tập ở khu sản xuất tơ (cảm ơn ban giám đốc công ty ngày ấy).
Lần đầu tiên mình thấy cảnh nấu kén kéo tơ. Cảnh tượng rất đau lòng làm mình xúc động mãi, nhìn thấy rồi mới biết vì sao trong dân gian có câu: con tằm đến chết vẫn còn nhả tơ. Người xưa lại có thơ:
Xuân tàm đáo tử ty phương tận,
Lạp cự thành hôi lệ thuỷ can.
(Tằm xuân đến chết mới nhả hết tơ,
Ngọn nến thành tro mới khô nước mắt.)
Thời tụi mình lên Bảo Lộc, cách lấy tơ tằm còn dân gian thủ công lắm. Kén được nấu trong một cái vạc nước rất to. Khi kén chín, sợi tơ sẽ rời ra. Người ta lấy một cây đũa khấy xuống nước, sợi tơ nào vướng vào đũa sẽ được móc lên guồng. Khi guồng quay, tơ được kéo theo, kéo cho đến khi kén hết tơ thì con nhộng là cái xác trần trụi nổi lềnh bềnh trong vạc nước sôi. Bởi vậy mới gọi là trần như nhộng. Cả một đời rút ruột nhả tơ rồi chết đi trong vạc nước sôi. Thấy bi thảm cho một kiếp tằm.
Sau này công nghiệp phát triển người ta không lấy tơ thủ công nữa. Kén tằm chạy qua máng của giàn máy kéo sợi. Thành ra những gì tụi mình chứng kiến ngày ấy là một kỷ niệm bây giờ không còn ở công ty nữa.
Những buổi chiều không đi tham quan, thực tập, lớp mình được tự do sinh hoạt. Một số bạn đi chợ, một số vượt đồi nương vào nhà dân chơi, một số lội suối băng rừng đi chụp hình. Tuần đầu tiên, mình ở lại trường tham gia các chương trình giao lưu thể thao với sinh viên Bảo Lộc.
Lần đó đội tuyển nữ lớp TT11 giao hữu bóng chuyền với đội tuyển nữ trường Bảo Lộc. Cả đội bóng của lớp mình không đứa nào có giày thể thao, đứa thì mang giày sandal, đứa mang guốc mộc. Thời đó ở Sài Gòn guốc gỗ đang thịnh hành, giá rẻ vừa túi tiền của sinh viên. Mang đôi guốc tới khi mòn miếng cao su (vỏ xe) dưới đế thì đóng miếng cao su khác vô. Quai đứt, đóng quai mới. Một đôi guốc lê lết cũng qua được một học kỳ. Mỗi khi bước ra sân bóng chuyền, tụi mình bỏ guốc bên ngoài, đi chân không. Thời này nói vậy không ai tin mà nghĩ lại càng thêm nản. Tụi mình thi đấu cho đội tuyển trường mà không được hỗ trợ một đôi giày, không có một cái áo, thậm chí một ly nước trà đá cũng không có. Nhiều đêm mình phải cố nhớ lại, cố xác định lại chuyện đi chân không thi đấu cho đội tuyển trường, vì nó quá phi lý. Nhưng sự thật là vậy.
Đi chân không mà năm 1987 ĐH Nông Lâm vô địch giải sinh viên nữ toàn miền Nam (tổ chức ở ĐH Y Dược), đoạt được chiếc vé ra thi đấu ở Hà Nội. Năm 1988, tụi mình vô địch giải sinh viên toàn thành phố (tổ chức ở ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật). Tham gia giải năm 1988 có tới năm cầu thủ lớp TT11 khoác áo đội tuyển trường (Xuân, Hồng, Vân, Hiền, Phương, người bạn khác khoa còn lại là Vân - Thủy Sản 12). Đó cũng là lần đầu tiên tụi mình thi đấu không có sự hỗ trợ của các bậc đàn chị là cán bộ nhân viên trong trường mà vẫn giành vinh quang.
Bởi vậy, khi lên Bảo Lộc, đội tuyển lớp mà phải thi đấu với đội tuyển trường, tụi mình vẫn tự tin lắm. Lớp mình có tới bốn cầu thủ chính thức khoác áo đội tuyển trường, ba cầu thủ cấp đoàn khoa, bốn huấn luyện viên (nam) đầy tâm huyết. Tụi mình sát cánh bên nhau đã quen, kéo quân đi đâu cũng mang theo niềm tin bách chiến bách thắng. Nhưng hôm thi đấu trời bỗng trở lạnh, nhiệt độ ban ngày xuống đến 16 độ, vừa bỏ guốc bước vào sân là mình phát hoảng. Mấy bạn có giày sandal quyết định mang sandal đánh. Đám mang guốc phải đổi giày cho bạn bè xung quanh.
Hai cầu nêu, hai linh hồn của đội hôm đó thi đấu cực kỳ xuất xắc. Tuyết Xuân và Kim Thoa trong mọi tình huống đều nâng banh cho đồng đội đập sát ván. Ba cầu công khác (Nguyễn Vân, Thu Hồng, Cẩm Hiền) cũng chơi với phong độ hoàn hảo. Mình mang đôi giày mượn mà vẫn vô trúng đà, hạ cánh an toàn không trật cổ chân, thật là may phước. Tỉ số rực sáng cho đội nữ TT11: 2-0.
Trên sân thi đấu của đội nam, các huấn luyện viên của tụi mình thi đấu cũng rất tốt. Ngoài bốn cầu thủ cấp đoàn khoa của TT11A (Sáu, Mon, Bằng, Lãnh), còn có thêm hai hũ gạo trộn bo bo của TT11B. Anh Sáu là cầu công vào bóng cực chuẩn, lối chơi điềm tĩnh và luôn chọn sự an toàn để giành chiến thắng. Ngược lại, anh Bằng có lối đánh liều lĩnh luôn gây sóng gió và gây nguy hiểm. Với chiều cao trên 1m78, thể lực và kỹ thuật hoàn hảo, anh Bằng luôn đem lại những pha bóng dứt điểm đầy quyết liệt. Anh Mon là thủ lãnh đội bóng, một tay chuyền thông minh luôn vì đồng đội. Anh Lãnh có đường banh đậm chắc, thi đấu xuất sắc ở hàng phòng thủ. Nhờ vậy mà đội bóng nam TT11 trước lực lượng hùng hậu của TH Bảo Lộc (có một cầu công cấp tỉnh) vẫn cố gắng dành được chiến thắng sát nút ở hiệp cuối. Tỉ số 2-1 cho TT11.
Buổi tối liên hoan, chàng cầu công cấp tỉnh của trường Bảo Lộc xuống chơi với lớp. Nghe tụi sinh viên trên đó gọi là thầy, nhưng sao thầy đẹp trai quá. Thầy nói, cầu công của nữ Nông Lâm có chiều cao và sức bật rất tốt tuy nhiên còn thiếu một số kỹ thuật, nhưng con gái đánh vậy là hay rồi. Mình không hỏi kỹ thuật bị thiếu là gì, chẳng quan trọng, chỉ thấy thầy đẹp trai và tử tế. Thầy là người duy nhất nhìn mình như một cầu thủ, như một người có niềm đam mê thể thao.
Hồi đó, nữ sinh chơi thể thao thường bị nhìn ngó, săm soi kiểu khác, như là món hàng bán ngoài chợ. Cả trường không ai nói với mình một lời tử tế về kỹ thuật, chỉ là trêu chọc hay dè bĩu. Khi mình bước ra sân, tụi con trai nói mình “trường túc”, chữ trường túc khi ấy không đồng nghĩa với chân dài như bây giờ, nó mang một hàm ý dung tục khác. Nó làm mình tổn thương. Mỗi buổi sáng mình đi qua quán Cư Xá B (sau này mới biết là quán chị Huệ), thường có một anh từ trong quán đuổi theo rồi la to lên “ê, tụi bây, đứa nào cao hơn”, đồng bọn anh ngồi trong quán cười ầm ĩ, nói ra những lời nhăng cuội. Các anh thích đo với mình, thích hơn thua chiều cao với mình. Để chi vậy? Hơn nhau cái đầu cũng được mà.
Chơi thể thao là chấp nhận thiệt thòi. Lúc ban đầu, nhiều đứa con gái trong lớp mình cũng thử qua bóng chuyền, nhưng rồi có người yêu thì chia tay đồng đội. Buổi chiều mình quần thảo trên sân, tụi nó tất tả nấu nướng cho người yêu. Có đứa tự nguyện, có đứa nói, anh người yêu không muốn thấy cảnh nó nhảy nhót trên sân cho người khác ngắm. Đau lòng quá. Ai mà thắc mắc vì sao Võ cô nương qua hơn bốn năm đại học mà không có mảnh tình rách vắt vai thì gần có câu trả lời rồi đó.
Trận giao hữu bóng đá giữa lớp TT11 và trường Trường Kỹ Thuật Nông Nghiệp Bảo Lộc nhằm vào chiều chủ nhật. Sân vận động nằm hướng cư xá sinh viên Campuchia, phía sau đồi trà. Từ đó, nhìn xuống vùng thung lũng bát ngát có những con đường đất quanh co thật là đẹp. Đội hình có những khuôn mặt đáng nhớ: tiền vệ xuất xắc Hồ Thành Song, trung vệ bản lãnh Nguyễn Văn Bằng, hậu vệ thòng Nguyễn Văn Sáu, hậu vệ phải Trương Trọng Minh và những chân chạy lon ton. Tập thể nam sinh Trồng Trọt vừa ho khọt khẹt vừa cố gắng chạy hết đường chuyền, sử dụng cho bằng hết vốn liếng căn bản của chế độ dinh dưỡng gạo pha hạt cỏ. Nhiều pha dẫn bóng ngoạn mục xuống khung thành đối phương chấm dứt bằng hiện thực: “Đi chưa tới chợ đã hết tiền”. Tỉ số may mắn là thủ huề, cả đội bóng đều mừng.
*
Tuần thứ hai ở Bảo Lộc mình với Thoa hay lang thang xuống khu nhà dân phía sau đồi chơi. Dưới đó có nhiều gia đình cán bộ công nhân viên của trường và nhiều bạn sinh viên rất hiếu khách. Lần đầu tiên mình biết cái thú vui ngồi bên bếp lửa ấm nhấp ngụm trà xanh, chuyện trò rỉ rả.
Ấn tượng đáng nhớ khác là những giàn su su xanh mướt, lủng lẳng trái thật là đẹp. Mình với Thoa chưa thấy giàn su su bao giờ nên cứ ngẩn ra nhìn. Mấy đứa con nít ngây ngô trong xóm bám theo tụi mình mãi. Ban ngày cha mẹ lên nương, tụi nó tự chơi đùa chăm sóc nhau. Có thằng bé nhỏ xíu chừng 5 hay 6 tuổi phải chăm thằng em còn nhỏ hơn và một con bò lì lợm. Hai anh em vừa quệt nước mũi vừa gò lưng kéo con bò to sụ đi trên con đường đất. Con bò không chịu đi, hai đứa vừa chửi vừa khóc. Thấy thương gì đâu. Đứa nào má cũng hây hây rám lạnh, mắt tròn xoe đen như nhung. Ba mươi năm sau, trong giấc ngủ mình vẫn mơ thấy ánh mắt trong veo của những tiên đồng, tỉnh dậy bàng hoàng không biết là mơ hay là lạc miền ký ức. Bây giờ gặp lại Thoa trên facebook, hai đứa nói chuyện xưa, mới biết hình ảnh những đứa trẻ cao nguyên Bảo Lộc có thật. Kỷ niệm đẹp như là mơ, như là thơ.
Ngày nay khách du lịch đến Bảo Lộc không có cái may mắn của tụi mình ngày xưa, nhìn thấy vẻ đẹp đồi nương thênh thang nhiều phần hoang dã của Bảo Lộc (Bảo Lộc bây giờ giống một cô ca sĩ miệt vườn phấn son tèm lem). Từ trên đỉnh đồi nhìn xuống mình luôn choáng ngợp vì hình ảnh những nương trà cà phê xanh ngút ngàn điểm những vùng hoa vàng rực nắng, những con đường đất quanh co êm đềm dẫn vào cõi mông lung. Nếu bạn rảo bước xuống đồi, bất cứ một hàng rào nào bên triền dốc, một bờ cỏ dại nào bên nương trà cũng có thể làm bạn ngẩn ngơ vì những đóa hoa dại bé nhỏ đủ màu sắc.
Khi mình viết những dòng này, Bảo Lộc hiện ra trong màn sương trắng mênh mang. Bước chân ngày nào về trên phố núi chênh vênh, bàn tay đưa lên đón một cánh hoa dầu.
*
Võ Thu Phương TT11
*

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét