NÔNG LÂM KHUNG TRỜI KỶ NIỆM
Cư xá nữ ĐH Nông Lâm 1985-1990
(PHẦN 2)
☘️
🔘 Chuyện
học hành ban đêm:
Cư xá nữ thường xuyên bị cúp điện hay điện
rất yếu chỉ sáng lờ mờ. Chắc nhiều bạn còn nhớ, mỗi khi điện bị cúp đột ngột
thì có những tiếng thét rùng rợn vang lên từ hướng cư xá nam. Cứ cúp điện là
nam sinh của ba cư xá cùng đồng loạt gào lên, như là ám hiệu của bọn tù nhân gọi
nhau nổi loạn.
Sinh viên nội trú phải tự mua đèn dầu thắp sáng. Đèn không mắc lắm, nhưng dầu để đốt rất mắc so với túi tiền eo hẹp của sinh viên. Nên sinh viên thường phải học bài buổi chiều cho đỡ tốn dầu buổi tối. Thành ra buổi tối thường rảnh rỗi, nhàn hạ. Quá rảnh rỗi, nhàn hạ.
Đêm cư xá nữ thiếu ánh điện buồn ảm đạm lắm.
Ít đứa nào muốn ở lại trong phòng. Sinh viên nào có người yêu thì đi chơi với
người yêu. Sinh viên nào không có người yêu thì ôm tập lên chữ I, chữ U tìm người
yêu.
Tuy nhiên, cũng có một dạng „không biết buồn“
trong cư xá nữ là mấy nàng tối nào cũng thắp đèn dầu học bài. Nhưng tính tình mấy
nàng này giống mấy bà sư già trong chùa. Tuổi mười tám đôi mươi mà chơi thể
thao thì sợ giống con trai, tham gia văn nghệ thì sợ mang tiếng xấu lên sân khấu,
đi chơi với người yêu thì sợ mất phẩm giá, viết báo tường thì sợ để lộ suy nghĩ
thầm kín, ngồi tán dóc với bạn cùng phòng thì sợ thành kẻ nhiều chuyện, bởi vậy
mấy sư bà cứ lấy chuyện gương mẫu học hành làm tiêu chí đạo đức. Từ dạo ra trường
đến nay, mình không gặp lại các sư bà này. Nhưng mình vẫn hình dung được cuộc sống
các sư: cũng lấy chồng, cũng sanh con như mọi người thôi, ngoài thời gian sáng
cắp ô đi chiều cắp ô về, các sư cụ còn có thêm niềm vui là lên Facebook khoe
chuyện học hành của con cái, khoe mấy giò phong lan trồng bên hiên nhà, giới
thiệu mấy món ăn ngon trong tuần... Công, dung, ngôn, hạnh đủ hết, chỉ thiếu một
thứ là SỐNG.
Sống bốn năm rưỡi ở đồi Nông Lâm là một
quãng đời với những trải nghiệm thú vị vô cùng. Tiếc là, không phải cái gì mình
cũng có dịp thử qua.
Riêng chuyện đi học chữ I có kỷ niệm chắc
ai cũng nhớ. Nữ sinh buổi tối đi học phải mang theo cái đèn điện bóng tròn có
dây. Khu chữ I không có đèn, chỉ có chùm dây điện hở trên trần. (Thư viện khu
chữ U có đèn, nhưng chỉ mở cửa mùa thi và luôn quá tải, buổi chiều đi học về
sinh viên đều phải ghé qua thư viện bỏ tập xí chỗ trước).
Sinh viên đi học đêm ở chữ I tự bỏ số tiền
túi eo hẹp mua đèn, tự leo lên bàn mắc đèn.
Mình có làm chuyện mắc bóng đèn một lần,
bây giờ nghĩ lại còn rùng mình. Điện 220V, dây trần không vỏ, mùa mưa ướt sụt
sùi, mà mấy đứa con gái kéo dây, khều móc đủ kiểu. May không có đứa nào tóc
quăn tít leo lên bàn thờ ba má ngồi ăn chuối.
Một cái đèn nữ sinh mắc lên, dăm mười phút
sau có một chục sinh viên xúm vô ké. Nhiều đứa còn nghèo hơn, không mua được dầu
thắp, không có được cái bóng đèn điện, phải ôm tập lang thang khu chữ I, chờ ai
mắc đèn là mò vô học ké. Đêm, người ta tháo đèn về, mình cũng phải về theo, thật
là thảm cảnh. Sau này mình đọc báo thấy tin, một cựu lãnh đạo trường tuyên bố:
„kinh tế gia đình tôi khá từ thời còn ở trường Nông Lâm“, mình ứa nước mắt. Những
ngày tụi mình không có một ngọn đèn học đêm, đã có bao nhiêu lãnh đạo trường,
lãnh đạo khoa khá giả?
Mình theo bạn bè xí xọn đi học chữ I mấy lần,
theo kiểu gọi của nữ sinh thời ấy: đi câu cá. Đầu buổi thì đông lắm, nhưng rồi
các nàng cứ theo tiếng gọi tình yêu ngoài đồi cỏ mà từ từ biến mất. Khoảng tám
giờ tối, chữ I chỉ còn những sinh viên chăm học thực sự. Các bạn nữ đi chung với
mình cũng đã biến mất hết, còn mình ngồi im re trên ghế mà chẳng dám cười đùa,
chẳng dám nghịch ngợm. Nhìn quanh, ai cũng cắm cúi học bài. Mình có trí nhớ tốt,
tính tình lại cực kỳ hiếu động. Tập vở mang theo đọc qua một lúc là thuộc, ngồi
lâu quá thấy ngứa miệng, thừa thải chân tay. Thật là khổ sở. Sau một buổi tối
chịu đựng, mình ôm tập về phòng còn bị bạn chọc quê:
„Nhìn tướng mày cắm cúi ngồi học, tụi con
trai tưởng mày là dân chuyên gạo bài“.
„Tao đi ngoài hồ (Thủy Sản) nhìn vô, thấy
mày cứ nghiêm nghị dán hai con mắt vô sách mà tức cười“.
„Đi lên chữ I câu cá mà ngồi thẳng đơ như
sư bà tụng kinh, ôm khư khư cuốn kinh, làm gì có cá nào dám bơi tới gần.“
*
🔘 Sinh
hoạt văn hóa:
Phòng 9C, 10C là một trong những phòng có
hoạt động văn hóa khá tốt trong cư xá nữ vì tụi mình có lực lượng thể thao và
văn nghệ cấp đoàn trường. Hầu hết các buổi chiều (trừ mùa thi) phòng 9C, 10C đều
có chương trình tập bóng chuyền, cầu lông. Mùa tranh giải tụi mình còn tổ chức
tập thêm một buổi bóng chuyền lúc 6 giờ sáng. Cuối tuần tụi mình giăng lưới tập
cầu lông trên sân chữ U. Phòng 9C có chị Tuyết Xuân từng vô địch giải cầu lông
nữ toàn trường. Hai phòng 9C và 10C có các cầu thủ nữ từng vô địch giải bóng
chuyền sinh viên toàn miền Nam.
Buổi tối, tụi mình lên sân thượng ca hát với
mấy tay văn nghệ: Lan Hương, Lan Phương, Phương Dung, Hoài Phương, Nguyễn Vân…
Sau này các bạn Dâu Tằm 11 còn tự tổ chức học khiêu vũ.
Nhưng nói chung là những sinh hoạt văn hóa
trong cư xá nữ đều là tự phát. Mỗi tầng, mỗi phòng tự tìm một phương cách sinh
hoạt trong điều kiện kinh tế ngặt nghèo.
Sinh hoạt văn hóa mang tính tập thể thì
nghèo nàn lắm. Ngoài những buổi văn nghệ chuyên khoa, một năm một lần, Đại học
Nông Lâm thời đó có quá ít loại hình sinh hoạt văn hóa có tổ chức. Vì thiếu
kinh phí? Không, nhà trường có tiền và sẵn sàng chi nhiều tiền cho căn bệnh
thành tích rất quái gở.
Ví dụ:
Năm 1987, đội tuyển bóng chuyền nữ Đại Học
Nông Lâm đoạt cúp vô địch sinh viên toàn miền Nam, được đặc cách ra Hà Nội thi
đấu. Con đường dẫn đến vinh quang đó, mỗi đứa sinh viên trong đội tuyển phải trả
giá bằng mồ hôi và nước mắt, bằng những ngày tập luyện cả sáng lẫn chiều, bằng
nỗ lực vượt qua cái đói liên miên, bằng những buổi tối chong đèn ngồi học đến
giữa khuya để đảm bảo điểm thi học kỳ. Năm cầu thủ trẻ của TT 11 và DT 11 luôn
có mặt trong mọi trận đấu sinh tử, luôn sát cánh bên nhau trong mọi đường chuyền,
luôn thao thức bên nhau đêm trước mỗi trận đánh.
Cái vé ra Hà Nội là phần thưởng cho sự cố gắng
quyết liệt của năm đứa con gái khóa 11 khoa Trồng Trọt. Hai tuần trước khi ra
Hà Nội, đội tuyển bóng chuyền nữ được tập trung bồi dưỡng tại nhà nghỉ trạm xá,
có chế độ ăn uống và tập luyện chuyên nghiệp.
Nhưng rồi thông báo từ Đoàn trường đưa xuống
thật phũ phàng và tàn nhẫn. Bốn cầu thủ của TT11 bị loại ra khỏi danh sách tập
trung bồi dưỡng, đó là Nguyễn Thị Vân, Võ Thu Phương, Hà Tuyết Xuân, Nguyễn Thu
Hồng. Lý do rất đơn giản, nhà trường dành tấm vé đi Hà Nội cho hai nữ giáo viên
trường. Hai cô này chẳng hề tham gia thi đấu vòng loại, chẳng có chút công trạng
gì, chỉ vì tham lam mà nhảy vô cướp tiêu chuẩn của sinh viên. Và, nhà trường bỏ
tiền thuê thêm hai cầu thủ chuyên nghiệp hạng A của nhà văn hóa Thanh Niên – Phạm
Ngọc Thạch. Những người này được Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Phòng
đào tạo trường Đại Học Nông Lâm làm hồ sơ giả mạo là sinh viên Nông Lâm, để đủ
tiêu chuẩn thi đấu trong đội hình sinh viên. Điều lố bịch là, cả đội tuyển sinh
viên đi thi đấu mà thực sự chỉ có một sinh viên duy nhất, lại ở vị trí dự bị là
Nguyễn Phước Cẩm Hiền. Tụi mình đều mừng cho Hiền, đều thấy bạn mình xứng đáng,
vì Hiền đã từng cùng đồng đội đổ mồ hôi sôi nước mắt giành được cơ hội đi tranh
giải toàn quốc. Ít ra còn có một đứa đại diện cho sinh viên Nông Lâm ra Hà Nội,
không thì đau lắm.
Nỗi đau đầu đời tụi mình gánh lấy quá chua
xót, nhưng nó giúp mình hiểu được bất công là gì. Buổi chiều đi học về, ngang
qua sân bóng chuyền, tụi mình thấy đám Lý Thông đứng trong hàng ngũ đội tuyển,
vui vẻ (trơ trẽn?) tập luyện trên cái sân mà Thạch Sanh từng đổ mồ hôi tập luyện.
Mình cúi đầu ôm tập đi cho nhanh, nghe cảm giác ngậm ngùi kéo qua lòng, buồn đến
nghẹn ngào. Khi đó mình chỉ mới 19 tuổi, phải hiểu đời quá sớm.
Cũng năm 1987, nhà trường có tổ chức cho
sinh viên tập aerobic. Phong trào được sinh viên ủng hộ rầm rộ, diễn tập được
vài lần (tại câu lạc bộ dưới tầng hầm nhà ăn) rồi chấm dứt đột ngột. Nữ sinh tiếc
ngẩn ngơ. Phong trào khiêu vũ do một nhóm sinh viên tự khởi xướng cũng chỉ kéo
dài được khoảng một học kỳ (?) rồi tiêu tan.
Thỉnh thoảng nhà trường có mời ca sĩ hay
nhà thơ về giao lưu với sinh viên, những cuộc vui như vậy thật hiếm hoi, để lại
nhiều kỷ niệm. Những khuôn mặt lừng danh đã cùng sinh viên Nông Lâm chia sẻ ánh
trăng thanh: ca sĩ Nhã Phương, ca sĩ Anh Khoa, nhạc sĩ Trần Tiến… Sau này (khoảng
năm 2008) mình về Việt Nam tham gia họp mặt với giới văn sĩ ở Sài Gòn, mình gặp
lại nhà thơ Lê Thị Kim. Nhắc lại lần trình diễn đầy ấn tượng của chị ở trường
Nông Lâm, không ngờ tác giả „Ra khỏi quán cà phê“ vẫn còn nhớ và xúc động. Chị
nói bằng chất giọng ngọt ngào không lẫn vào đâu được: „Đêm đó thật là vui, thật
là cảm động“.
…
Ở giữa tỉnh và mê
Chúng ta nhận chân cuộc sống
Rằng sẽ không còn những người suốt đời ăn gạo
Mà không hề biết lúa là gì
Rằng sẽ không còn những người suốt đời si
café
Mà không biết thân café là thân leo hay
thân gỗ
Ra khỏi quán café gặp mùa xuân bỡ ngỡ
Như lần đầu biết tới mùa xuân
Như là ly café thứ nhất
Ta nắm tay nhau bằng bàn tay thành thật
Chai sạn rồi mới hiểu bàn tay
Mới hiểu vị ngon ly café sau ngày vất vả
Ta dắt tay nhau vào cuộc đời mới lạ
Khi chúng mình ra khỏi quán café.
Thơ tình Lê Thị Kim chỉ có vậy thôi mà xao
xuyến cả khung trời Nông Lâm. Những đứa chưa biết vị cà phê là gì như bọn con
gái phòng 9C đều ngây ngất với vị đắng đầu đời.
Võ Thu Phương TT11
*
(2) Nông Lâm - Một Thời Để Nhớ | ## NÔNG LÂM KHUNG TRỜI KỶ NIỆM | Facebook
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét