Tôi học Lâm nghiệp cũng là bất đắc dĩ, thời thế xô đẩy, chẳng thiết tha gì lắm. Với lại hoàn cảnh lúc đó cũng chẳng ai cho mình quyền chọn lựa, nên nhiều khi mang tâm trạng “bèo giạt mây trôi” gió thổi tới đâu thì cát bụi bay theo đó.
Hồi hè 72 lúc còn nhỏ, ba tôi lần đầu dắt vô Sài Gòn ở chơi mấy ngày nhà ông cậu bên Quận 5, chỗ gần chợ Nancy. Năm đó người anh họ đậu Tú tài toàn, miễn quân dịch, anh vui mừng vì cánh cửa đại học rộng mở. Ngày nào anh cũng hăm hở đi chọn trường nên thường chở tôi theo. Gần nhà cậu trên đường Cộng Hoà thì Sư phạm, Khoa học; vô Chợ Lớn thì Y, Nha; rồi ra Sài Gòn chỗ gần Sở thú xem Văn khoa, Dược, Nông lâm súc; bên hồ Con Rùa thì Luật, Kiến trúc;… Anh biết tôi thi hội họa đạt giải nhì học sinh toàn miền Trung, nên còn chở tôi tới trường Mỹ thuật Gia định gần Lăng Ông, xin cho tôi được vào hẳn bên trong để xem các anh chị vẽ tranh, nặn tượng,… Hồi đó ngoài xứ tôi chưa có trường đại học nào, nên các đại học trong này với tôi lúc ấy trường nào cũng là thiên đường. Cậu học trò tỉnh lẻ miền Trung vô Sài Gòn hoa lệ, choáng ngợp đủ thứ và mơ ước rất nhiều. Tôi mạnh miệng nói với anh: “Chắc chắn vài năm nữa em sẽ vào đây học đại học chung với anh”. Anh mỉm cười, rồi chở tôi ra Nhà sách Khai Trí mua sách, qua tiệm Bạch Đằng đường Lê Lợi ăn kem, nhìn phố phường nhộn nhịp rộn ràng, mọi người vui vẻ đi trên đường mà tôi thấy đời đẹp biết bao.
Nhưng cái ước mơ như rất bình thường ấy tưởng
sẽ dễ dàng nắm lấy trong bàn tay chỉ trong vòng một vài năm nữa, ai ngờ tôi lại
phải mất hơn mười năm trầy trật. Và cái “ước mơ” ấy lúc đạt được nó miễn cưỡng,
eo sèo, héo úa như đời mình chứ chẳng tươi sáng như ý nghĩ của tôi hồi đó. Trường
đại học ngày tôi bước chân vào, sao thấy buồn bã chứ chẳng rộn ràng, sinh động
như những cảnh của đại học ngày xưa tôi thấy. Hay tại lòng mình đã đổi thay nhiều?!
Tôi nhớ có đọc ông triết gia nào đó nói rằng: “Mình phải tạo nên hoàn cảnh, đừng
để hoàn cảnh tạo nên mình”. Sống trót đời rồi tôi biết rằng, triết lý phun ra từ
miệng của các ông ấy thì lúc nào nghe cũng hay ho lắm, nhưng hoàn cảnh nó chà đạp,
rồi ngay cả khối thằng triết gia cuộc đời cũng bầm dập te tua còn hơn mền rách.
Nhiều thằng cha còn u mê, ôm cả khối triết lý trong đầu cuồng tín đi theo cái
đám bần cố dốt nát không một chữ bẻ đôi, để chúng vùi dập cho tàn tạ cả cuộc đời.
Bởi vậy, nói lý thì dễ lắm mà đời là đời chứ nó không cần lý!
Sau bốn năm mài rách hết mấy cái quần cũ,
tôi chuẩn bị làm Luận văn tốt nghiệp. Hướng dẫn tôi là thầy NVS, môn Trồng rừng.
Vô đại học theo cái ngành mà trong ước mơ chưa từng bao giờ nghĩ đến, nên làm đề
tài với tôi cũng là để cho qua. Cái môn Trồng rừng ít đứa nào thích, chúng
khoái Chế biến, Khai thác,…còn tôi thì sao cũng được, nên nhận đại cho rồi. Tôi
nhớ hình như tên đề tài là “Điều tra sinh trưởng rừng trồng…” gì gì đó. Tôi
thích giữ lại nhiều kỷ vật, nhiều khi rất tầm thường mà cũng giữ suốt mấy chục
năm, nhưng sao cái Luận văn quan trọng này tôi lại vất ở đâu mất tiêu, chẳng
còn nhớ gì.
Tôi nhận đề tài từ thầy giáo vụ Khoa, rồi
nhận Giấy giới thiệu về cái Trạm ở gần Hàng Xanh cũng từ Khoa. Thầy hướng dẫn
không ra mặt, chắc thầy bận bịu gì đó. Chiều hôm sau tôi mò đến nhà thầy, nếu
không lầm, thì đường NTT, Phú Nhuận (hình như nhà vợ, thầy ở rể) một người phụ
nữ (sau này tôi biết là vợ) nói thầy mắc đi đánh bóng chuyền. Nghe nói thầy
khoái bóng chuyền lắm, còn tôi suốt mấy năm học thì chưa từng coi được thầy
đánh trận nào, chắc tại mình vô duyên. Chờ gần một tiếng đồng hồ thầy cũng chưa
về, thấy cô lục đục dọn cơm tối, tôi đành xin phép ra về chỉ nhờ cô nhắn lại là
“có T, sinh viên làm đề tài tốt nghiệp đến xin gặp thầy hướng dẫn…”.
Mấy ngày sau tôi cũng từ nhà đạp xe lên
Khoa mong gặp thầy, nhưng lúc nào cũng trật chìa, cứ tôi vừa tới Khoa thì “thầy
có giờ”, còn không thì “thầy không có giờ” nên ở nhà, hoặc không có ở Khoa. Trời
cho tôi cái thói xấu là không thích quỵ lụy, cầu cạnh quá đáng, nhịn nhục tới mức
độ nào đó quá giới hạn chịu đựng (của bản thân) thì tôi xổ toẹt, dù đó là ai.
Thêm thấy thầy chắc cũng bận bịu và có vẻ cũng chẳng mặn mòi chi cái chuyện đề
tài của tôi, nên sau đó tôi quyết định “chỉ dựa vào sức mình là chính”, thỉnh thoảng
có gì bí quá thì hỏi bâng quơ mấy anh trong Trạm trồng rừng chỉ vẽ bậy bạ chi
đó, nghe được gì thì nghe.
Nhiều người tôn sùng Khổng Tử, không chỉ bọn
vua quan phong kiến mà cả đám độc tài hiện đại, chúng thường lợi dụng và vịn
vào “đạo Khổng” để trị dân:
“Quân xử thần tử thần bất tử bất trung.
Phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu.
Làm tôi phải trung thành với vua tuyệt đối,
vua biểu chết là phải chết. Làm con phải hiếu tuyệt đối, cha biểu chết cũng phải
chết. Nhưng lạ là cuộc đời Khổng Tử thì lại không trung với bất kỳ vị vua nào,
cả đời ông ta là những chuỗi ngày rong ruổi khắp Trung Nguyên, bỏ nước này chạy
qua nước nọ, chối vua này cầu vua nọ…để chỉ xin một chức quan. Có
đệ tử hỏi: “Sao thầy không trung với một vua mà phải đi cầu hết vua này đến vua
khác?”. Khổng Tử trả lời: “Vua phải ra vua thì tôi mới ra tôi. Cha phải ra cha
thì con mới ra con”. Nghĩa là cũng phải “chọn vua” mà phò! “Trung với thứ hôn
quân là ngu trung, hiếu với cha vô đạo là ngu hiếu”. Suy ra thì “thầy phải ra
thầy thì trò mới ra trò”, thầy chẳng ra gì thì biểu trò làm sao kính trọng. Bởi
vậy có đọc sách thánh hiền cũng phải đọc cho thấu đáo, đọc cho hết chữ, đừng đọc
nửa vời thành triết lý vụn, như chuyện tếu lang băm đọc sách chữa bịnh “đau bụng
uống nhân sâm…”, tới khi bốc nhân sâm trị đau bụng cho bệnh nhân uống thì bị chết
ngắt, để rồi lật tiếp trang sau thì lòi thêm hai chữ “…thì chết”. “Đau bụng uống
nhân sâm…thì chết”.
Thế rồi từ đó tôi không cố chủ động tìm gặp
thầy mà thầy như cũng đã quên mất tôi. Chắc thầy bận nhiều chuyện hoặc lo những
việc quan trọng hơn. Đôi khi thấy tôi hơi lúng túng trong khi làm đề tài, Anh Lộc,
Trưởng Trạm cũng có hỏi: “T trở ngại lắm không…?”. Tôi cũng nhiều lần nói trớ
đi: “Dạ, không sao anh, có gì thì em về trường hỏi thầy…”. Anh biết tôi nói dối,
nhưng chỗ tế nhị anh cũng không hỏi thêm.
Suốt những tháng làm đề tài tôi tự bơi là
chính. Tự quan hệ với Nông trường Tam Tân trên Củ Chi nơi có khu rừng trồng thí
nghiệm, tự lo mọi thứ, tự mày mò. Thỉnh thoảng có gì khó khăn lắm mới ghé Trạm
nhờ anh Lộc giúp, vì cũng không muốn làm phiền anh nhiều. Dù biết rằng công
trình thí nghiệm này là của Trạm, người ta mượn tôi để làm thay cho họ công việc
điều tra như người làm thuê không lương. Công việc nhàm chán, cứ lội nước phèn
vô mấy chục hecta rừng trồng bạch đàn với keo lá tràm rồi đo chiều cao, khoảng
cách, đo tới đo lui đo qua đo lại. Lúc đầu tôi còn tỉ mỉ, sau thấy rừng mênh
mông mà chỉ một mình tôi bắt đầu làm ẩu. Đo búa xua bằng mắt không cần dùng dụng
cụ (mà cũng chẳng có dụng cụ gì), và cứ đo kiểu xác suất, lúc đầu cách vài cây,
rồi những ngày sau cách cả chục cây, rồi tháng sau tôi cứ ngồi rồi áng chừng…
“Điều tra, đo đạc, thống kê. Trong ba thằng đó đếch mê thằng nào”. Mấy cái nghề
đó đời nào mà chính xác, mà trong cái xã hội nào có “cơ chế” phục vụ cho công cụ
tuyên truyền thì ba thằng đó cho số liệu còn ba mứa hơn tôi gấp tỷ lần, chớ mà
tin.
Còn mấy ngày nữa tới Tết, tôi dành dụm và
xin thêm bà già ít tiền mua hai phần quà. Một cho anh Trưởng Trạm, một để biếu
thầy. Mỗi phần trong ấy có gì tôi quên rồi, chỉ nhớ là phần quà biếu thầy ngoài
vài thứ khác thì có một ký lạp xưởng. Chạng vạng tối hôm đó tôi đến nhà thầy,
căn nhà mặt tiền mấy tầng đã tươm tất khang trang chờ đón Tết. Tôi rụt rè nhấn
chuông, vợ thầy ra mở cửa, sợ cô quên tôi tự giới thiệu lại là sinh viên được
thầy hướng dẫn đề tài tốt nghiệp, muốn tặng quà Tết. Cô mời tôi vô nhà, và chỉ
chiếc ghế salông bằng gỗ dài trong góc phòng đặt quay lưng ra ngoài, cô nói:
“Thầy đi chơi thể thao chắc cũng sắp về, em ngồi đợi chút”. Khoảng 15, 20’ thì
bị cúp điện, nhà tối thui, tôi phân vân đứng dậy định gởi quà lại rồi chào cô để
về, nhưng còn chút lưỡng lự là cũng muốn gặp thầy, hỏi thêm vài chuyện vì từ
ngày nhận đề tài đến nay tôi chưa gặp thầy để nhận bất kỳ sự hướng dẫn nào, vả
lại đưa quà thì cũng có lời chúc Tết, người ta nói “của cho không bằng cách cho
mà”. Tôi thiếu thốn chứ chắc thầy đâu thiếu thốn như tôi, chút quà này với tôi
nó có vẻ to lớn chứ với thầy chắc cũng tầm thường nên phải giữ lễ nghĩa. Đang
ngập ngừng thì cô từ phía sau mang cây đèn cầy lớn đi lên, gian phòng khách rộng
lớn sáng rực nhờ phản chiếu ánh sáng từ chiếc bàn kiếng và cái tủ búp phê,
không còn tối thui như lúc nảy, tôi thấy hơi yên lòng và sè sẹ ngồi lại xuống
ghế để chờ thầy. Có tiếng mở cổng, và bóng thầy bước nhanh vô nhà, tôi ngồi rụt
rè trong góc thầy không thấy bước thẳng vào trong, cô nói: “Có đứa sinh viên mới
đến…”. Chưa nghe hết câu chắc thầy nghĩ tôi đã về, trong bóng tối nhập nhoạng
thầy lớn tiếng: “Cúp điện mà đến làm gì?”. Cô thúc nhẹ tay vào hông thầy. Tôi
biết mình đã thừa, đến không đúng lúc làm phiền thầy, nên cầm túi quà đi tới,
nói: “Gần Tết rồi, em có chút quà tặng thầy cô. Chúc thầy cô qua năm mới nhiều
sức khỏe”. Tôi nói một hơi cái câu mà mình đã chuẩn bị sẳn từ trước, rồi đưa
túi quà cho cô, còn thầy im lặng gật gù như sượng sùng không nói gì. Tôi ráng
thêm mấy chữ: “Em xin chào thầy cô, em về”. Coi như mạo muội đến thăm thầy hôm
đó có mấy mục đích, trước hết là nhớ thầy muốn gặp, sau đó là mấy chuyện vướng
mắc trong đề tài muốn hỏi, và việc cuối cùng là tặng quà, thì tôi chỉ thực hiện
được có hai mục đích là tặng quà và gặp thầy trong cơn bực bội, còn mục đích tầm
thường là nhờ sự giúp đỡ đề tài thì coi như không.
Năm ấy ba tôi đi tù chưa về. Nhà tôi vẫn
còn khó khăn lắm! Trăm mối lo cơm áo vẫn còn nặng gánh trên vai mẹ tôi. Nhớ trước
đó tôi cùng thằng em út lên trại Hàm Tân thăm ông già, vừa được chuyển từ ngoài
Bắc về chờ cho ra trại. Trong túi quà ngoài mấy thứ cá khô, mắm ruốc còn có một
ký lạp xưởng là quý nhứt (đây là lý do để tôi nhớ ký lạp xưởng trong phần quà tặng
thầy). Lúc ngồi trên xe thằng em thấy bịch lạp xưởng lòi ra nó thèm lắm, xin
tôi: “Anh Hai, cho em cây lạp xưởng đi”. Tôi nói: “Để cho ba em, ba trong đó
đói lắm”. Hồi đó trong tù đói khát nhưng anh em tôi bên ngoài này cũng chẳng no
gì. Tuổi mới lớn thiếu ăn nên thằng em thấy gì cũng thèm. Bị tôi từ chối, nó
cúi mặt xuống rồi rưng rức khóc. Tôi thương em đứt ruột nhưng ráng cầm lòng lại
để không xé bao lạp xưởng ra, sợ mang bao lạp xưởng không còn nguyên cho ba
tôi, ông nghĩ quà cho ông là đồ thừa rồi ông lại tủi, tội nghiệp. Tôi dỗ nó:
“Em ráng đi, về nhà vài bữa anh nói má mua cho ăn”. May, vô tới trại, ba tôi
không nhận hết quà, mà thứ gì ông cũng san ra một nửa, biểu tôi mang về “mấy mẹ
con ăn, ba đủ rồi”. Tôi không chịu, nói “ở nhà có rồi, ba giữ lại mà ăn…”, rồi
tôi ngập ngừng nói tiếp: “Con chỉ xin hai cây lạp xưởng cho em”. Nhờ đó mà trên
đường đi bộ từ trạm Hàm Tân ra đường quốc lộ, tôi ghé quán nước bên đường, nướng
liền hai cây lạp xưởng cho nó… Từ ngày đó đến nay tôi không bao giờ ăn lạp xưởng,
nó chẳng còn là món mắc mỏ gì nữa, mà chỉ vì cứ nhìn thấy nó là làm tôi nhớ lại
những kỷ niệm không vui của những ngày khốn khó, tệ bạc.
Từ cái đêm hôm ấy cho đến ngày báo cáo tốt
nghiệp tôi không gặp thầy NVS nữa, chủ yếu là do tôi không mặn mà chủ động cố
muốn gặp. Tôi làm báo cáo bằng tất cả sự hiểu biết nhỏ nhoi của mình, tìm kiếm
tài liệu từ thư viện Quốc gia (đường Gia Long), bằng bất kỳ sách vở nào có thể
hoặc cóp nhặt từ sự giúp đỡ vụn vặt của anh Lộc. Ngày báo cáo xong tôi mua cây
thuốc đầu lọc Hoa Cúc, tôi nhớ đến nó vì hồi đó mỗi lần đi thăm nuôi ba tôi, mẹ
tôi chỉ mua hai gói Hoa Cúc này, cứ hễ gặp bất kỳ anh chị công an nào là bà “hối
lộ” cho mỗi người chỉ hai điếu, tôi mắc cỡ nhắc mẹ tôi: “Cho có hai điếu kỳ
quá, họ có nhận không?”. Mẹ tôi nói: “Mình tiền đâu mà cho mỗi người một gói
con…”. Tôi theo sau nhưng ngại ngùng lắm, tưởng họ chê rồi không khéo còn chửi
cho, nhưng không ngờ ai cũng nhận, người đứng thì cầm rồi bỏ vô túi, người ngồi
thì lùa vô hộc bàn. Mẹ tôi “cửa nào” cũng vô được vì bà thông minh, biết đường
“hối lộ” từ ngay sau ngày “giải phóng”, còn mấy anh chị cán bộ thì “thương dân”
còn nhiều khó khăn, nên cho gì cũng lấy, không có chê. Anh Lộc ghiền thuốc lá
và biết tôi còn là thằng sinh viên nghèo nên cầm cây thuốc tôi tặng anh cũng mừng.
Ra trường tôi có ghé Trạm, rồi đến nhà thăm anh. Thời gian ngắn sau nghe anh đi
định cư ở Úc, từ đó cũng biệt tin nhau.
Ngày tôi báo cáo tại Văn phòng Khoa, thầy
có bước vô đảo một vòng, tôi ôm một mớ giấy báo cáo cuộn tròn, gặp thầy cúi đầu
chào. Thầy lạnh lùng ra phía sau cầm trái banh, rồi lững thững đi ra sân bóng
chuyền. Cũng may, dù suốt thời gian làm đề tài tốt nghiệp thầy không hướng dẫn
tôi được một chữ, chẳng một lời chỉ vẽ, không một tiếng động viên nhưng tôi
cũng qua được nhẹ nhàng. Buổi báo cáo hôm ấy cũng là buổi thầy trò gặp nhau
thoáng qua lần cuối cho đến tận bây giờ. Sau này có lần gặp thầy H đến một Cty
lớn trong thành phố, nơi tôi đang làm Giám đốc Nhân sự, để xin Hợp đồng, tôi có
hỏi thăm về thầy, biết thầy bình thường cũng mừng.
Sống trên đời, đừng ai nói là không biết
thương ai ghét ai, đó là giả dối, không thật lòng. Bởi Phật đã dạy rồi, phàm là
người thì ai cũng có thất tình lục dục, cũng đầy “tham sân si hỉ nộ ái ố”,
chúng ta là người và thầy cô cũng là người. Chỉ có những thầy cô sống đủ tình
yêu thương, đủ lòng bao dung, độ lượng thì để lại mãi trong lòng học trò sự
kính trọng và yêu quý khôn nguôi. Nhưng, không phải là không có những người, chỉ
để lại nỗi buồn…
Nhiều kẻ đạo đức giả, cứ nghe ai nhắc về
quá khứ là biểu hãy quên đi, nhắc lại mà làm gì. Quân tử Tàu, bụng dạ chẳng ra
chi mà cứ thích nhai lại mấy cái chữ Nho nghe muốn mửa: “Nhất tự vi sư bán tự
vi sư”. Làm người lột quần áo ra thì ai cũng như ai. Còn lại khác nhau phân biệt
là ở cái tấm lòng, ở cách cư xử làm sao cho có nghĩa, có tình. Cái gì cũng quên
đi thì người ta viết và học lịch sử để làm gì? Ai quên thì quên nhưng tôi thì vẫn
nhớ, tôi chưa lú lẫn, không bệnh alzheimer để phải quên, và tôi cũng không muốn
quên. Nhớ không phải để oán trách, giận hờn vì chúng ta không còn nhiều thời
gian, đầu óc cũng không rảnh với bộn bề lo toan cho cuộc sống của mình, giận hờn
oán trách mà làm chi nữa chỉ khổ bản thân thôi. Nhưng phải nhớ để đừng lập lại
với ai nữa, những gì mà kẻ khác đã đối xử không tốt với mình trong quá khứ. Và
nhớ, để tự nhủ lòng, ráng sống trên đời sao cho có tình có nghĩa, vì chặng đường
đi cùng nhau trên cõi nhân gian này ngắn ngủi lắm, không thương được nhau thì
thôi, chứ tệ bạc với nhau mà làm gì cho đời người thêm buồn.
Phan Thanh Trà
Lâm 8
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét